(PLO)- Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào từng loại tội phạm, nhiều nước không áp dụng thời hiệu đối với các tội như giết người, phản quốc, biển thủ công quỹ...

Tuỳ mỗi quốc gia, tuỳ loại tội phạm mà quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) sẽ khác nhau, ví dụ ở một số nước dưới đây:

Mỹ

Theo chuyên trang pháp lý Findlaw (thuộc tập đoàn truyền thông Thomson Reuters có trụ sở tại Canada), mỗi bang của Mỹ quy định thời hiệu truy cứu TNHS riêng và thời hiệu sẽ khác nhau tùy theo từng loại tội danh.

Thời hiệu chỉ được tính khi nghi phạm vẫn đang cư trú tại một bang cụ thể (nơi xảy ra vụ án). Nếu nghi phạm bỏ trốn, thời hiệu sẽ tạm dừng và chỉ được nối lại khi người này quay về bang đó. Điều này nhằm ngăn chặn những tên tội phạm lợi dụng sự giới hạn của thời hiệu mà thoát tội (bằng cách bỏ trốn để kéo dài thời gian đến khi vượt thời hiệu).

Tuy nhiên, không phải tất cả tội phạm đều có quy định thời hiệu, ví dụ như tội giết người sẽ không có thời hiệu, nghĩa là một kẻ giết người có thể bị xét xử, truy tố thậm chí nhiều thập niên sau đó. Một số bang cũng không giới hạn thời hiệu đối với một số loại tội phạm, chẳng hạn như xâm hại tình dục hoặc khủng bố.

Các nước quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thế nào? ảnh 1

Trụ sở Bộ Tư pháp Mỹ ở bang Washington. Ảnh: REUTERS

Ví dụ, bang Colorado không áp dụng thời hiệu đối với tội phản quốc, trong khi bang California thì không áp dụng thời hiệu đối với hành vi biển thủ công quỹ. Còn ở bang Connecticut, các tội xâm nhập gia cư bất hợp pháp, tấn công phụ nữ gây sẩy thai cũng nằm trong danh sách tội không giới hạn thời hiệu truy cứu TNHS.

Đức

Theo Điều 78 Bộ luật Hình sự Đức, tội giết người có tình tiết tăng nặng sẽ không bị giới hạn thời hiệu truy cứu TNHS. Hành vi này, theo Bộ luật, là hành vi giết người có chủ đích, kế hoạch, cách thức thực hiện man rợ, gây ra mối nguy hiểm cho cộng đồng, hoặc nhằm tạo điều kiện hay che đậy cho hành vi phạm tội khác.

Khoản 3 Điều 78 thì quy định thời hạn các tội khác như sau: (1) 30 năm với tội danh có mức án chung thân; (2) 20 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là trên 10 năm tù; (3) 10 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ 5 năm đến dưới 10 năm tù; (4) 5 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ 1 năm đến dưới 5 năm tù; (5) 3 năm trong các trường hợp khác.

Trung Quốc

Căn cứ Điều 87 Bộ luật Hình sự Trung Quốc, thời hiệu truy cứu TNHS được quy định cụ thể như sau: (1) 5 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là dưới 5 năm tù; (2) 10 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ 5 đến dưới 10 năm tù; (3) 15 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ 10 năm; (4) 20 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân hoặc tử hình.

 

Trong trường hợp xét thấy tội phạm phải bị truy tố thì trong trường hợp những tội có thời hiệu 20 năm, khi đã hết thời hiệu thì cần phải trình lên Viện kiểm sát nhân dân tối cao để được phê chuẩn.

Theo Điều 88, hai trường hợp sau đây sẽ không áp dụng thời hiệu: Một là, phần tử phạm tội bỏ trốn sau khi Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan công an, cơ quan an ninh nhà nước khởi tố vụ án hoặc khi Toà án nhân dân quyết định đưa vụ án ra xét xử; hai là, trường hợp khi người bị hại nộp đơn tố giác trong thời hạn truy cứu mà Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Công an cần phải lập án mà không lập án.

Nhật

Khoản 1 Điều 250 Bộ luật Tố tụng Hình sự Nhật năm 1948 nêu rõ thời hiệu truy cứu TNHS đối với tội phạm gây chết người bị phạt tù không lao động khổ sai hoặc chịu các hình phạt nặng hơn (trừ tử hình) như sau: (1) 30 năm với tội danh có mức án chung thân; (2) 20 năm đối với các trường hợp có mức án tù tối đa 20 năm; (3) 10 năm đối với các trường hợp ngoài hai mục nêu trên.

Trong khi đó, Khoản 2 Điều 250 thì quy định thời hiệu đối với tội phạm ngoài những tội phạm nêu ở Khoản 1, gồm: (1) 25 năm đối với các tội phạm có mức án tử hình; (2) 15 năm đối với các tội phạm có mức án chung thân; (3) 10 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ 15 năm tù; (4) 7 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ 10 năm đến dưới 15 năm tù; (5) 5 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ 5 năm đến dưới 10 năm tù; (6) 3 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là dưới 5 năm tù, hoặc án phạt tiền (7) 1 năm đối với các tội có mức án là tạm giam hoặc phạt tiền nhẹ.

Theo Điều 15 và Điều 17 Bộ luật Hình sự Nhật, án phạt tiền ở Nhật là mức tiền phạt trên 10.000 yen (hơn 1,7 triệu đồng), trong khi án phạt tiền nhẹ dao động từ 1.000 - 10.000 yen.

Hàn Quốc

Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hàn Quốc nêu rõ thời hiệu truy cứu TNHS như sau:

(1) 15 năm đối với trường hợp có mức án tử hình; (2) 10 năm đối với các trường hợp có mức án khổ sai hoặc tù chung thân; (3) 7 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là án khổ sai hoặc tù trên 10 năm; (4) 5 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là án khổ sai hoặc tù từ 5 năm đến dưới 10 năm; (5) 3 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là án khổ sai hoặc tù dưới 5 năm, hoặc bị đình chỉ bằng cấp hơn 10 năm, hoặc bị phạt tiền không dưới 10.000 won (hơn 180.000 vnd); (6) 2 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là đình chỉ bằng cấp hơn 5 năm; (7) 1 năm đối với các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là đình chỉ bằng cấp dưới 5 năm, hoặc phạt tiền dưới 10.000 won, bị giam giữ, hoặc bị tịch thu tài sản.

Trong khi đó, căn cứ vào Khoản 2 Điều 249, thời hiệu truy cứu đối với trường hợp đã bị khởi tố công khai nhưng chưa có bản án cuối cùng là 15 năm kể từ ngày khởi tố.